Trên Những Nẻo Đường Đất Nước
Thứ ba, 18 Tháng 10 2011 07:12
Để có được ngày hòa bình, thống nhất, có biết bao thế hệ anh hùng đã ngã xuống cho Tổ quốc. Đi bất cứ nơi đâu, đến bất cứ nơi nào, từ địa đầu phía Bắc xuống đến mũi Cà Mau, ta cũng có thể chạm đến nỗi đau của những bà mẹ. Đó là những bà mẹ có con sinh Bắc tử Nam ở Lạng Sơn, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nội, Hà Bắc…
Đó là những bà mẹ miền Nam hiến đâng đến 9,10 gười con, cháu cho Tổ quốc. Vinh quang và nỗi đau của những bà mẹ Việt Nam anh hùng làm thế giới kinh ngạc và khâm phục. Phải, có đất nước nào trên thế giới có những bà mẹ vừa chờ chồng suốt hơn 20 năm, vừa làm lụng, tần tảo nuôi con, vừa chống đỡ với những thế lực đen tối để tồn tại, vừa nuốt nứơc mắt tiễn con ra đi vừa khóc thầm lặng lẽ khi các con mình vĩnh viễn không trở về; vừa nén đau thương, cầm vũ khí đánh giặc, vừa đứng trước mũi súng quân thù đấu tranh… Những đặc trưng vùng đất, những nỗi niềm, vẻ đẹp, nỗi đau, sức mạnh dân tộc chứa đựng trong số phận những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà chúng tôi được gặp…
Khởi đầu dự án 100 tập phim bà mẹ VNAH, Hãng phim Truyền hình chọn các tình Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam để thu thập tư liệu, tranh thủ quay chân dung các bà mẹ. Anh Lý Quang Trung- Phó Giám đốc Hãng phim,Tổng đạo diễn chân thành nói: “Chọn các tỉnh xa xôi, khó khăn đi trước”. Càng đi, tôi càng thấm thía lời anh nói. Chúng tôi đã vượt qua hàng trăm con đèo hiểm trở, hơn ngàn cây số đường bị sạt lở, lầy lội bùn sình, đi qua các địa danh lạ lẫm: Mường Tè, Ca Lăng, Bằng Lũng, Mường Cơi... Lái xe Từ Khải Thành- một chàng trai Sán Dìu gan góc, từng là bộ đội phục viên đã sử dụng triệt để bộ phận chống lầy. Chiếc xe như đang làm xiếc trên con đường trơn lầy. Nhiều lần tôi nín thở, cầm chắc sẽ ngủ lại giữa đường. May mắn thay, anh đã kiên cường, mưu trí vượt qua. Những bánh xe lầy bùn của anh đã đưa chúng tôi đến những miền đất xa xôi, gặp gỡ bao số phận mẹ VNAH miền Tây Bắc. Mỗi chuyến đi, mỗi cung đường chúng tôi qua là thêm sự khám phá, ngưỡng mộ, rung cảm về số phận những bà mẹ Việt Nam…
Đó là mẹ Nguyễn Thị Mêng 96 tuổi ở Lương Sơn , Hòa Bình. Mẹ nay đã yếu và đang cùng sống với nàng dâu Phùng Thị Nông vợ anh Nguyễn Văn Trây người con trai độc nhất của mẹ. Khi anh Nguyễn Văn Trây tòng quân, anh đã có 3 con. Nguyễn Thúy Bường,Nguyễn Văn Viện, Nguyễn Nam Phương (Phương là út). Khi anh Trây tòng quân nhập ngũ, vợ anh Trây còn mang trong bụng bé Nguyễn Nam Phương. Anh vừa mới xây thô ngôi nhà cho mẹ và vợ. Anh đi không về. Những người phụ nữ ở lại rất vất vả, vừa đi làm công điểm cho hợp tác xã, vừa làm lúa nương, chăn nuôi… Lần hồi, hai người phụ nữ ấy nuôi những đứa trẻ lớn lên, hoàn thiện ngôi nhà. Khi tôi đến, ngôi nhà mẹ lúc lỉu những trái na, đỏ rực thanh long. Tôi ấn tượng hàng cau trước cổng, ao bèo xanh ngắt, con suối phía trước nhà mẹ. Khi chúng tôi đến thì con dâu mẹ- chị Phùng Thị Nông đi vằng. Mẹ tiếc rẻ nói: “Nó hát Mường rất hay”. Những đứa trẻ lớn lên, trưởng thành. Nguyễn Nam Phương giờ là thiếu tá- Phó Chỉ huy quân sự Lương Sơn. Tôi thực sự kinh ngạc khi tận mắt chứng kiến mẹ ở tuổi 96, vẫn còn xỏ kim, còn may vá được...
![]() |
|
Mẹ VNAH Nguyễn Thị Mêng, Lương Sơn, Hòa Bình Ảnh TH, chụp 22.9.2011 |
Con đường lên Lạc Sơn, Hòa Bình rất xấu.Thật may, huyện Ủy Lạc Sơn rất nhiệt tình cho chúng tôi mượn chiếc U-oát, để vào thẳng nhà mẹ Bùi Thị Triều. Năm nay, mẹ đã 99 tuổi. Mẹ nhuộn răng đen. Mẹ nói nhuộm răng đen mới lấy chồng được. Tôi lặng đi vì câu nói của mẹ: “Nửa đất nước còn mất sao lại không cho con đi. Con ra tiền tuyến, mẹ ở lại hậu phương lớn miền Bắc, trụ lại với con dâu, làm ruộng hợp tác, vô cùng vất vả, nuôi đàn cháu. Trên ngôi nhà sàn, quây quần cùng con cháu, sau 2 ly rượu, ký ức tuôn chảy trong lòng mẹ.. Mẹ có một tuổi thơ buồn tủi, cơ cực. Người cha vì nghiện thuốc phiện sẵn sang bán đứa con gái bé bỏng. Chồng mẹ nhà khá giả chuộc mẹ về. Mẹ ngậm ngùi kể chuyện đời làm vợ lẻ trong đêm trước của cách mạng Tháng Tám. Con trai Bùi Văn Nhọn hy sinh, mẹ còn 4 người cháu. Mẹ nhớ con trai mẹ đan thúng rất đẹp. Anh Nhọn còn để lại vật kỷ niệm ấy cho người vợ trước khi hy sinh. Mẹ lảy ngô rất giỏi, vẫn còn bước lên nhà sàn dễ dàng...
![]() |
|
Mẹ VNAH Bùi Thị Triều 99 tuổi, cùng con dâu Quách Thị Lan (72 tuổi) |
Đến nhà mẹ Bùi Thị Dậu. “Nhà” của mẹ hiện nay là một căn phòng trên tầng 2 Khách sạn Công Đoàn tỉnh Sơn La – đơn vị nhận phụng dưỡng mẹ. Giám đốc Vũ Tiến Quân kể quê mẹ ở bản Sao tua, xã Hợp, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Vì mẹ không còn ai nên anh dành đưa mẹ về sống ở khách sạn để tiện chăm sóc. Nhưng trong lòng mẹ không nguôi nhớ bản cũ. Anh Quân nói: “Thỉnh thoảng, chúng tôi đưa mẹ về thăm quê”. Đường về nhà mẹ phải qua mấy con sông, mấy bến phà... Và tôi hình dung ra, người con trai bản mường năm ấy khi lên đường nhập ngũ đã lội qua mấy con suối, mấy dòng sông, mấy ngọn núi mới ra huyện tập trung. Từ đó, anh được đưa đi huấn luyện, để có mặt nơi chiến trường C ác liệt Mường Sủi. Anh Chính chưa kịp lấy vợ. Mơ ước lớn nhất của mẹ là đi thăm Bắc Hồ và “đưa Chính về”. Mẹ đã được đi thăm Bác Hồ còn anh Chính thì chưa về với mẹ..
![]() |
|
Mẹ Bùi Thị Dậu, Dân tộc Mường |
Vượt qua chặng đường trên 130 cây số, đèo dốc, quanh co, nguy hiểm, cuối cùng, chúng tôi cũng đến được với mẹ Bàn Thị Nái. Nhà mẹ Suối Bí, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, Sơn La. Mẹ nói mẹ đã 101 tuổi. Mẹ quê Hà Đông, năm lên 11 tuổi, mẹ mồ côi, trốn nhà ra đi vì mẹ cả (vợ đầu của bố) bạc đãi. Mẹ làm đủ thứ nghề,ở đợ, chăn trâu… Đòn roi thời cơ cực ấy còn in dấu trên cánh tay mẹ. Mẹ bị bán cho một gia đình người Dao ở Mường Cơi. Mẹ được gã chồng. Chồng mẹ đi bộ đội. Mẹ tham gia công tác phụ nữ, tiếp tế lương thực. Con trai mẹ là Đặng Văn Ton. Anh vĩnh viễn nằm lại nơi “Mặt trận phía Tây”. Hài cốt anh còn nằm lại ở một nơi nào đó trên cánh đồng nước lào…
Con trai hy sinh, mẹ khóc đền mù mắt. Tôi hỏi mẹ: “Chỉ có một người con duy nhứt, mẹ có sẵn lòng cho anh Ton nhập ngũ”. Mẹ nói: “Cả nước còn đi, sao mẹ lại không cho con đi”. Mẹ kể mẹ nuôi con rất cực. Mẹ phải ẳm anh Ton đi xin sửa, cho anh bú vú héo mỗi khi anh khóc. Anh có người yêu. Nhưng chị ấy đòi “đổi” người gia đình mẹ nên anh chưa kịp lấy vợ. Mơ ước lớn nhất của mẹ là đưa hài cốt anh Ton về nghĩa trang quê nhà...
![]() |
|
Mẹ mẹ Bùi Thị Nái, tại Suối Bí, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, Sơn La Dân tộc Kinh, lấy chồng người Dao. Mẹ 101 tuồi, đang ờ cùng cháu dâu Lý Thị Mai, người Dao. |
![]() |
|
Mẹ Lý Khờ Pớ -Dân tộc Hà Nhì- Thị trấn Mường Tè. Mẹ Sinh năm 1921 |
Từ Lai Châu, chúng tôi đi Mường Tè, vượt qua hàng trăm cây số đường trơn lầy, đá núi sạt lở. Sự khó nhọc chúng tôi được đền bù, khi gặp được mẹ Lý Khờ Phớ- Bà mẹ VNAH người dân tộc Hà Nhì. Mẹ không nói được tiếng Kinh, phải nhờ người cháu Lù Hà Chê phiên dịch. Anh kể quê mẹ xưa ở Ca Lăng, cách Mường tè 70-80 cây số. Đời mẹ rất khổ, phải đào củ mài, củ nâu nuôi con, gạo không đủ ăn. Trong ký ức mẹ, anh Lý Hừ Po cởi mở, chịu thương, chịu khó. Anh có yêu một cô gái. Tê cô là Hà Pứ. Anh đang chuẩn bị lấy vợ thì lên đường nhập ngũ. Khi hay tin anh Po Po hy sinh, cô rất buồn. Rồi cô phải đi lấy chồng vì còn quá trẻ…
Tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, Ca lăng ở đâu?”. “Ở xa lắm”. Mẹ kể, hồi đó, từ Ca Lăng, anh Po đi xuống Mường tè, rồi đi Lai Châu hang trăm cây số. Mỗi ngày, anh Lý Hừ Po chỉ đi được khoảng 50 cây, phải luồn rừng mà đi. Mẹ chuẩn bị gạo, lương khô, muối ớt cho anh ăn đi đường. Anh Po nói với người ở lại: “Bố mẹ yên tâm ở nhà. Con đi chiến đấu, rồi con về với bố mẹ”. Anh học được lớp hai, biết tiếng Kinh.
Mẹ nhớ lúc anh Po còn nhỏ, mẹ cho anh đi học. Mỗi ngày, mẹ gói cơm vào lá chuối, lá dong cho anh mang đến trường. Mỗi sáng anh đi, vượt qua hang chục cây số đường rừng đổi chữ, tối mịt mới về nhà. về. “Nhờ kiên trì, nó biết chữ, sáng cái bụng ra…”
Khi anh Po ra đi, mẹ ở lại bản, đứng trông theo, giấu nước mắt vào trong. Mẹ nhớ con, đi đâu, làm gì cũng nhớ con, làm gì cũng thấy buồn. Thấy trai làng, mẹ lại khóc nhớ con. Mẹ nhớ, ngày anh Po đi, mẹ tiễn ra cổng bản. Anh quỳ lạy từ biệt mẹ, theo tập tục người Hà Nhì. Hôm ấy, ở Ca Lăng cũng có nhiều người cùng đi với Po. Họ cũng không trở về bản vì bom đạn, hy sinh, bệnh tật…
Kể đến đây, mẹ khóc nghẹn, nức nở. Tôi lặng người đi, chợt hiểu những giọt nước mắt của những người mẹ khóc con, dù ở đồng bằng hay miền biên cương núi rừng, đều to tròn, trĩu nặng như nhau. Tiếng khóc nghẹn, ai oán của bà đã nói lên tất cả. Nỗi đau người mẹ mất con, không ngôn ngữ nào diễn tả được…
TH
Bộ phim tài liệu Huyền thoại Mẹ Việt Nam Anh Hùng, Chỉ đạo nội dung : Nguyễn Quí Hòa, Chỉ đạo nghệ thuật: NSUT Nguyễn Việt Hùng, Biên kịch: Trầm Hương, Biên tập: Trần Đức Tuấn - Phạm Xuân Nghị, Tổng đạo diễn: Lý Quang Trung, Đạo diễn: Cổ Trường Sinh, NSƯT Đồng Anh Quốc, Nguyễn Ngọc Mai, Phan Tô hoài, Võ An Bình, Nguyễn Thị Thu Trang, Phạm Ngọc Lan. TFS sản xuất




