TTCT - Ba năm cho một bộ phim tài liệu là dài, nhưng ba năm cho 4.000 năm trang phục Việt là ngắn. Nhưng ở đây vấn đề không phải thời gian mà là tâm huyết của người nghệ sĩ đối với di sản văn hóa dân tộc. Nhân bộ phim Đi t́m trang phục Việt (*) đang phát sóng, TTCT đă trao đổi với nữ đạo diễn Nguyễn Hải Anh.
“Trang phục Việt có nét riêng biệt”
* Chào chị Hải Anh, đi t́m trang phục Việt là câu hỏi được bắt đầu từ chính bản thân chị hay từ một gợi ư bên ngoài? - Câu hỏi này có từ khi tôi c̣n là sinh viên theo học tại Học viện hàn lâm Sân khấu điện ảnh âm nhạc Leningrad (Liên Xô cũ). Khi đó, vào mỗi cuối tuần kư túc xá thường tổ chức dạ tiệc cho sinh viên quốc tế và đó là dịp để những sinh viên nước ngoài như chúng tôi khoe với nhau những bộ cánh dân tộc độc đáo của nước ḿnh. Và những bộ trang phục thuần Việt bằng vải đũi, tơ tằm, lụa với những hoa văn họa tiết thêu thùa bắt mắt luôn làm các bạn sinh viên nước ngoài trầm trồ. Từ đó trong tôi xuất hiện câu hỏi: “Không biết xưa kia tổ tiên ḿnh ăn mặc thế nào nhỉ?”. Khi được học về nền mỹ thuật của nhân loại suốt năm năm trời (1 buổi/tuần) tại Bảo tàng Heritage, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp quyền quư của các nữ quư tộc châu Âu trong các tranh tượng, câu hỏi về thời trang phụ nữ quư tộc Việt càng thôi thúc tôi... Không ngờ gần 20 năm sau chính bộ phim do tôi viết kịch bản và đạo diễn lại là câu trả lời bằng h́nh ảnh đầu tiên cho chính bản thân tôi và cho những ai có cùng niềm đam mê mỹ thuật cổ của người Việt.

* Với đội ngũ làm phim gọn nhẹ, không chỉ rong ruổi trong nước mà c̣n ra nước ngoài, chị từng nói nhiều khi thấy ḿnh như cánh buồm bị đánh ch́m. Vậy điều ǵ đă giúp chị vượt qua?
- Tôi chỉ xin kể một trong rất nhiều kỷ niệm vui buồn khi làm bộ phim này. Một lần khi đoàn làm phim vượt 400km t́m đến một di tích thời Hậu Lê ở Thanh Hóa. Đến nơi trời nắng chang chang, nhiệt độ lên đến trên 400C, đang không biết phải t́m ai để hỏi th́ một người dân từ đâu xuất hiện.
Ông cho biết di tích đă bị phá hủy từ lâu nhưng ông tự nguyện làm người dẫn đường cho chúng tôi đến một di tích khác cũng có rất nhiều tượng đá và hiện vật liên quan đến thời kỳ Hậu Lê. Thú thật, nếu không có những người dân như vậy th́ chúng tôi không thể bước tiếp cuộc hành tŕnh.
* Câu chuyện trang phục Việt bắt đầu bằng trang phục thời Hùng Vương đến thời hiện đại có nhiều thăng trầm?
- Theo tôi thấy trang phục của giới b́nh dân ḿnh hầu như không thay đổi nhiều, chỉ có thời trang với những phép tắc, luật lệ nghiêm ngặt của một xă hội phong kiến th́ thay đổi khá rơ nét qua các triều đại.
Trang phục là biểu hiện một nét văn hóa của một dân tộc, nên điều này cũng dễ hiểu v́ dân tộc Việt phải kinh qua bao cuộc chiến tranh, bao biến động lịch sử, ảnh hưởng nhiều luồng văn hóa khác nhau là tất yếu, nhưng điều quan trọng là chúng ta không bị đồng hóa, trang phục của người Việt qua các thời kỳ lịch sử vẫn có những nét rất riêng biệt.

|
Từ thời Lư - Trần y phục phong kiến Việt đă có xu hướng ảnh hưởng Trung Quốc, nhưng do đạo Phật là quốc giáo nên màu sắc Phật giáo ảnh hưởng không nhỏ đến y phục vương triều. Ví dụ vua mặc áo đỏ chứ không phải áo vàng như thời Lê sơ (thế kỷ 15) trở đi. Từ sau thế kỷ 15, y phục vương triều phong kiến Việt cố gắng bắt chước nguyên mẫu Trung Hoa.
C̣n y phục dân gian Việt th́ khác hẳn Trung Hoa. Thời thượng cổ người Việt cởi trần đóng khố, nữ cũng ở trần quấn váy như người Khmer và các dân tộc phương Nam. Người dân thời Lư - Trần chủ yếu mặc màu đen cả áo lẫn quần. Thế kỷ 16-19 dân thường mặc các màu đen, nâu, trắng. Ao cánh không cổ hoặc cổ ngắn. Nam mặc quần lá tọa, nữ mặc váy sồng, đi ra ngoài th́ mặc thêm áo hai thân, tứ thân hay năm thân, tức là chiếc áo dài đến đầu gối. Nam đội nón tam giác hoặc vấn khăn, nữ đội nón thúng quai thao.
Họa sĩ, nhà phê b́nh mỹ thuật PHAN CẨM THƯỢNG (một trong những tác giả viết lời b́nh cho bộ phim) |
Mơ ước về một bảo tàng trang phục Việt
* Đoàn làm phim đă đến nhiều bảo tàng ở nước ngoài để t́m lời lư giải cho trang phục người Việt cổ. Chị thấy ở những bảo tàng này việc giữ ǵn hiện vật như thế nào?
- Chúng tôi đă đi qua Bảo tàng Babier Muller (Geneva, Thụy Sĩ), Bảo tàng Dân tộc học quốc gia Áo (Vienna, Áo), Bảo tàng Guimet (Pháp), Bảo tàng Lịch sử ngành dệt (Lyon, Pháp), Bảo tàng Mỹ thuật và lịch sử hoàng gia Bỉ (Brussels, Bỉ), Bảo tàng Lịch sử Tô Châu (Trung Quốc), Bảo tàng Cố Cung (Bắc Kinh, Trung Quốc)... Ơ đó, các nhà khảo cổ học, các nhà nghiên cứu làm việc vô cùng nghiêm túc và khoa học.
Trước thái độ trân trọng cổ vật Việt của họ, chúng tôi thật mừng rỡ và tự hào, biết rằng dưới những bàn tay cẩn thận, chu đáo và đầy trách nhiệm ấy, kho báu của nhân loại, trong đó có VN, sẽ được bảo quản ở mức tốt nhất.
Thực tế nếu không có những hiện vật trong các bảo tàng nước ngoài th́ chúng tôi không thể t́m thấy một hiện vật h́nh người nào mặc trang phục thời kỳ thế kỷ 1 đến thế kỷ 9 ở trong nước cả. Chính nhờ đó mà diện mạo trang phục Việt đă có thể h́nh dung rơ ràng hơn, cụ thể hơn, khách quan hơn, xác tín hơn.
Những hiện vật áo vua, hoàng hậu triều Nguyễn trong bộ sưu tập của bà Phạm Lan Hương ở Avignon (Pháp) là một ví dụ sinh động và đáng trân trọng về ḷng tự hào dân tộc, ư thức ǵn giữ cổ vật của người Việt ở nước ngoài. C̣n nhiều bảo tàng tư nhân của người Việt ở nước ngoài khác sẵn sàng giúp đoàn làm phim.
* Chị nghĩ ǵ về một dự án bảo tàng trang phục Việt?
- Ở thành phố Lyon (Pháp) có viện bảo tàng vải sợi và trang phục lớn nhất thế giới. Với số lượng 3-4 triệu tư liệu vải vóc, trang phục sưu tầm được ở đây, khách tham quan có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những chiếc áo chẽn Ai Cập có từ 2.000 năm trước Công nguyên, hay những chiếc áo bằng lông và da thú của người Mông Cổ du mục, những bộ trang phục quư tộc Anh - Pháp thế kỷ 15,16...
Thật tiếc khi những mẫu vải thời Đông Sơn tuyệt đẹp mà chúng tôi có dịp ghi h́nh ở VN đă không có mặt ở đây để bổ sung cho nền công nghiệp dệt của nhân loại. Tôi thấy Tập đoàn Dệt may VN đang có dự án làm một bảo tàng cho ngành dệt may, nếu như có sự kết hợp lớn hơn giữa các đơn vị tổ chức... có liên quan, rất hi vọng chúng ta sẽ có một bảo tàng trang phục Việt đúng nghĩa.
* Xin cảm ơn chị.

|